Tiêu hóa ở miệng

Quá trình tiêu hóa ở miệng chủ yếu diễn ra dưới những biến đổi về mặt cơ học, do dó ta cần tìm hiểu cấu tạo của các cơ quan thực hiện quá trình này, đó là răng, lưỡi và nước bọt.

I. Răng

Cấu tạo răng ở người

            Bộ răng ở người bao gồm 4 loại răng: răng cửa, răng nanh, răng cạnh hàm và răng hàm, do đó hàm răng người có tên gọi là hàm nhiều loại răng. Ở một số động vật như cá heo, hàm răng của chúng chỉ toàn những răng hình cọc đơn giản, gọi là hàm một loại răng, chúng không có khả năng cắt và nghiền thức ăn như ở răng người, do đó thức ăn chỉ được nuốt chửng.

            Về cấu tạo, răng người gồm nhiều lớp riêng biệt, từ ngoài vào trong gồm có các phần:

1. Men răng

            Đây là lớp bao bọc bên ngoài răng, và là lớp cứng nhất của răng. Men răng được sinh ra do những tế bào đặc biệt gọi là nguyên bào men, phủ bên trên răng trong quá trình phát triển răng, và khi răng đã nhô lên khỏi lợi, các tế bào này sẽ chết, do đó men răng bị tổn thương sẽ không thể thay thế được. Do cấu tạo rất bền vững nên men răng là thành phần chịu lực chủ yếu trong chức năng ăn nhai, ngoài ra chúng còn góp phần vào việc tạo màu răng, liên quan đến mặt thẩm mĩ. Men răng rất khó vỡ nhưng lại rất dễ bị ăn mòn bởi các axit trong miệng, do đó chúng ta cần phải vệ sinh răng sạch sẽ sau khi ăn, nhất là những thức ăn có nhiều đường.

2. Ngà răng

            Là lớp nằm dưới men răng, chúng có cấu tạo gần giống như xương, tạo nên hình dạng chủ yếu của răng. Ngà răng do các nguyên bào ngà sản sinh ra và các tế bào này vẫn còn sống khi răng đã phát triển đầy đủ. Trong ngà răng có rất nhiều ống ngà rất nhỏ chứa đựng các tế bào ngà, tạo cảm giác cho răng khi ăn những thực phẩm nóng lạnh chua ngọt.

3. Tủy răng

            Nằm ở chính giữa răng, bao gồm mô liên kết chứa các sợi thần kinh và mao mạch, có tác dụng nuôi răng và tạo cảm giác cho răng. Tuỷ răng gồm có hai phần: là tuỷ thân răng (buồng tuỷ) và tuỷ chân răng.

4. Dây chằng nha chu

            Dây chằng nha chu nằm giữa xương ổ răng và men chân chân răng, một đầu bám vào xương ổ, còn đầy kia bám vào chân răng. Các dây chằng này hình thành từ prôtêin dạng sợi keo gọi là collagen. Bằng cách liên kết giữa xương ổ răng và men chân răng, các dây chằng nha chu đã giữ răng một cách an toàn và giúp răng có thể xê dịch một chút trong hố của nó. Nhờ đó có thể làm giảm tác động bất ngờ và làm răng đỡ bị vỡ trong quá trình ăn.

Răng có thể nghiền thức ăn là nhờ sự chuyển động của hàm dưới, được thực hiện bởi các cơ như cơ thái dương, cơ cắn, cơ bướm giữa và cơ bướm bên. Ở đây tớ chỉ nêu cấu tạo của răng, chứ không đi sâu vào hoạt động của các cơ này, nếu muốn biết thêm các bạn có thể tham khảo sách Sinh học của W.D Phillips và T.J Chilton (trang 112, phần 13.2, bài 13, tập 1)

II. Lưỡi

Lưỡi

Lưỡi do các sợi cơ cấu tạo thành và gồm có hai phần: thân lưỡi ở phía trước, lắt léo cử động lên xuống, qua lại được; cuống lưỡi nằm ở phía sau, gắn với xương móng và vòm miệng.

            Chức năng của lưỡi trong quá trình tiêu hóa ở miệng là làm cho thức ăn chuyển động quanh miệng để răng có thể nhai thức ăn, ngoài ra lưỡi còn có chức năng quan trọng là nếm thức ăn (tức vị giác, một trong 5 giác quan của con người), tiếng nói ở người cũng được thực hiện nhờ lưỡi.

Mặt trên của lưỡi có những chồi nhỏ với các nụ nếm rải rác ở giữa các rãnh của lưỡi. Nụ phân bố thành từng vùng trên mặt lưỡi với các thụ cảm khác nhau: nụ nếm với chất ngọt nằm phía đầu lưỡi, nụ mặn và chua ở hai bên cạnh lưỡi và nụ đắng ở đằng sau lưỡi. Trong mỗi nụ là cả ngàn tế bào vị giác. Các tế bào này được hóa chất trong thức ăn nước uống kích thích và chuyển cảm giác nếm theo dây thần kinh lên não để nhận diện hương vị món ăn. Có 3 dây thần kinh chịu trách nhiệm chuyển cảm giác này, do đó sự mất vị giác ít khi xảy ra vì sự tổn thương của một dây thần kinh.

III. Nước bọt

            Nước bọt là chất tiết có dạng nhờn, trong, hay có bọt, được tiết ra từ tuyến nước bọt. Nước bọt được tiết nhiều khi có thức ăn, chúng hoạt động tốt ở điều kiện nhiệt độ cơ thể, độ pH=7. Trong nước bọt có chứa nước, chất nhày, emzim amylaza, lyzozym và các thành phần khác. Nước trong nước bọt có tác dụng hòa tan các chất hòa tan có trong thức ăn, còn chất nhày sẽ bôi trơn thức ăn giúp chúng trở nên dễ nuốt. Các emzim amylaza sẽ biến đổi tinh bột trong thức ăn thành đường mantozo (đường đôi), emzim amylaza vẫn tiếp tục hoạt động trong một thời gian ngắn khi thức ăn đã xuống dạ dày, sau đó các axit trong dạ dày sẽ ngấm vào thức ăn và làm giảm độ pH nên emzin amylaza sẽ bị ức chế. Thành phần còn lại của nước bọt là lyzozym, có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn trong vòm miệng, giúp răng và lưỡi luôn sạch sẽ. Ngoài ra độ pH của nước bọt còn có tác dụng trung hòa độ axit trong miệng do hoạt động của các vi khuẩn tạo ra, giúp bảo vệ men răng.

Quá trình tiêu hóa ở miệng kết thúc bằng hoạt động nuốt. Đây là một phản xạ tự động khi viên thức ăn đến được thành sau của miệng. Khối thức ăn sẽ được đẩy xuống dạ dày nhờ các cơ nhu động ở thực quản và khi các cơ thắt tâm vị đang giãn.

Câu hỏi và bài tập:

1. Nêu các phần chính của răng.

2. Vì sao trẻ nhỏ hay ăn kẹo rất dễ bị sâu răng?

Tìm hiểu thêm:

Răng nhạy cảm là gì?

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: